Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Những sai lầm trở thành phát minh


NHỮNG SAI LẦM TRỞ THÀNH PHÁT MINH

Ai cũng biết rằng nhu cầu là mẹ đẻ của phát minh. Tuy nhiên cũng có thể nói rằng nếu những phát minh có ích thường là kết quả của nhu cầu từ cuộc sống thì những phát minh vĩ đại lại thường là rất ngẫu nhiên, thậm chí có một số do sai lầm mà có. Việc tìm ra châu Mỹ là thí dụ tiêu biểu nhất của những phát minh loại này. Chúng ta đều biết rằng Christopher Columbus trên thực tế là đi về hướng châu Á…
Dưới đây là một số phát minh như vậy – do tình cờ hoặc do sai lầm, nghĩa là kết quả trái ngược với chủ ý ban đầu của người phát minh ra nó. Một số phát minh dưới đây chúng tôi chọn từ cuốn “Mistakes That Worked” của Charlotte Foltz Jones trên trang Washington ProFile, một số từ những nguồn khác.



Rượu sâm banh. Người ta vẫn cho rằng rượu sâm banh là do Dom Pierre Pérignon sáng chế ra, tuy nhiên vị tu sĩ này không hề có ý định làm ra thứ rượu vang sủi bọt này mà hoàn toàn ngược lại – ông mất nhiều năm để tìm cách ngăn chặn hiện tượng này bởi vì sủi bọt thời đó được coi là dấu hiệu của rượu kém chất lượng.
Pérignon muốn chiều theo khẩu vị của giới quí tộc Pháp nên làm rượu vang trắng. Vùng Champagne thích hợp với loại nho đỏ nên ông tìm cách làm vang trắng từ nho đỏ. Thế nhưng khí hậu ở đây tương đối lạnh, rượu nho phải ủ trong trong thùng hai năm. Một vấn đề xảy ra là khí ga tích tụ thường xuyên làm những chiếc thùng ủ rượu nổ tung. Khi đó Pérignon quyết định ủ trong thùng một năm, và năm thứ hai ủ trong chai. Kết quả là ông được một thứ rượu sủi bọt và có ga chua. Pérignon tìm mọi cách để loại trừ những thứ này nhưng không có kết quả. Rất may là giới quí tộc của Pháp và Anh lại rất thích loại rượu này và sau đó thì nó chinh phục cả thế giới, trở thành một thứ rượu của lễ hội, của tình yêu, của tình cảm con người cả khi vui lẫn khi buồn như lời của Madam Lily Bollinger: “I only drink Champagne when I'm happy, and... when I 'm sad”. Hoàng đế Napoleon Bonaparte cũng nói rằng khi thắng trận, ông uống sâm banh để mừng chiến thắng, còn khi thua ông uống sâm banh để tự an ủi mình (I drink champagne when I win, to celebrate . . . and I drink champagne when I lose, to console myself).


Chip khoai tây. Chip khoai tây ra đời từ sự trả thù một vị khách khó tính. Ngày 24 tháng 8 năm 1853 tại một nhà hàng ở thành phố Saratoga Springs, bang New York, Mỹ có một vị khách rất sành ăn và khó tính. Đó là tỷ phú Cornelius Vanderbilt. Ông này thường xuyên từ chối món “french- fried potatoes” của nhà hàng, than phiền rằng món khoai tây này lát dày và mềm nhủn. Bếp trưởng George Crum quyết định chọc quê vị khách bằng cách thái những lát khoai tây mỏng dính rồi cho vào chảo dầu đang sôi thành những mảnh khoai giòn và sẽ vỡ tan khi dùng nĩa đâm vào.
Món ăn này được mang lên cho vị khách khó tính. Đầu tiên, Vanderbilt nói rằng lát khoai tây quá mỏng và không xóc bằng nĩa được, tuy nhiên, sau khi ăn thử vị khách cảm thấy rất hài lòng. Thế là những người khách khác cũng đều gọi món này. Kết quả là trong thực đơn của nhà hàng xuất hiện món “Saratoga chips” mà sau đó ít lâu đã chinh phục cả thế giới.


Giấy ghi chú. Giấy ghi chú Post-it Notes ra đời từ thất bại làm tăng độ bền của băng keo dán. Năm 1968 Spencer Silver – một cộng tác viên của công ty 3M nghiên cứu cách tăng độ bền của băng keo. Anh ta tìm ra một loại keo dán mà không dính chặt vào bề mặt cần dán nên không thể dùng để sản xuất băng keo, và cũng không biết nên dùng nó vào việc gì.
Sau đó mấy năm, một đồng nghiệp của Spencer Silver đi hát trong dàn đồng ca của nhà thờ đã lấy làm bực bội khi thấy những dải giấy đánh dấu trang trong quyển Thánh ca thường xuyên bị rơi xuống. Bỗng nhiên người này nhớ đến loại keo dán kia, là thứ có thể dùng để dán những dải giấy đánh dấu trang mà không làm rách các trang sách. Năm 1980 Post-it Notes được sản xuất hàng loạt.


Keo dính Super Glue. Keo dính ngay được tìm ra năm 1942 cũng là kết quả của một sai lầm. Dr. Harry Coover lúc đó làm cho hãng Eastman Kodak thử nghiệm tách một chất nhựa trong suốt để sản xuất thước ngắm có độ chính xác cao dùng cho các loại súng xách tay. Thử nghiệm không thành công vì chất cyanoacrylate mà Coover dùng đã làm cho mọi thứ dính chặt vào nhau. Nghiên cứu chấm dứt ở đây và chuyển sang một hướng khác.
Sáu năm sau, Coover làm ở một nhà máy hóa chất thuộc bang Tennessee và bỗng nhớ đến chất cực dính mà để dán các vật vào nhau không cần áp suất hay nhiệt độ. Loại keo dính ngay được sản xuất sau một vài điều chỉnh nhỏ. Trong chiến tranh Việt Nam nó được dùng bôi lên vết thương những người lính cho cầm máu để chuyển đến bệnh viện. Số phận trớ trêu của một phát minh nhắm vào việc giết người cho tốt hơn lại hóa thành có ích cho việc cứu được nhiều người.


Bánh nướng với sô-cô-la. Bánh nướng với các mẩu sô cô la chocolate-chip cookies là một trong những loại bánh phổ biến và được yêu thích nhất ở Mỹ. Loại bánh ngon này ra đời năm 1933 từ sai lầm do thiếu hiểu biết kiến thức vật lý của Ruth Wakefield – bà nội trợ ở một khách sạn nhỏ.
Một hôm Ruth Wakefield bẻ tấm sô cô la thành những mẩu nhỏ rồi trộn vào bột nhão và nghĩ rằng sô cô la sẽ tan chảy khi nướng, nhuộm bánh thành màu nâu cùng với mùi vị của sô cô la. Không ngờ, khi lấy bánh ra từ lò nướng thì bánh lốm đốm với những mẩu sô cô la nhưng mọi người ăn bánh ai cũng gật gù khen ngon.


Viagra. Đây là tên hiệu của thuốc Sildenafil dùng để giúp chứng liệt dương ở nam giới được tìm ra theo kiểu “đi làm cái bàn là lại thành ra con voi”. Năm 1992 tại thành phố Mertir Tidefeel, Anh các cộng tác viên của hãng dược phẩm Frizer đi nghiên cứu một loại thuốc chữa viêm họng. Trong quá trình thử nghiệm người ta phát hiện hiệu ứng phụ của thuốc là làm tăng độ cương cứng dương vật của người dùng thuốc. Phát minh sai mục đích ban đầu này trở thành một phát minh ngẫu nhiên vĩ đại thứ ba trong y học, sau tia rơn-ghen và thuốc penixillin.


Coca-Cola. Năm 1886 dược sĩ John Pemberton thử chế một loại hợp dịch từ nước ép của lá cây coca Nam Mỹ và quả cola Châu Phi, là những thứ có tính năng tăng lực. Pemberton uống th thứ nước này, nhận ra chúng có vị ngon và nghĩ rằng loại xi-rô này có thể giúp con người lấy lại sức khỏe, giảm stress và đau răng. Ông mang mặt hàng này bán trong các nhà thuốc của thành phố Atlanta với giá 5 cent một ly.
Thế nhưng nước giải khát Coca-Cola ra đời là do sự cẩu thả của một nhân viên nhà thuốc khi người này mở nhầm vòi nước có ga thay vì nước không ga để pha vào ly nước xi-rô. Loại nước mới được đặt tên Coca-Cola đã không có được sự thành công ngay từ buổi đầu. Năm đầu tiên John Pemberton bỏ 79,96 đô la để quảng cáo sản phẩm mới nhưng chỉ thu về được 50 đô la. Năm 1888 Pemberton bán lại bản quyền phát minh. Năm 1892 Asa Griggs Candler thành lập công ty Coca-Cola. Ngày nay Coca-Cola được sản xuất ở 200 quốc gia trên thế giới và là thương hiệu đắt giá nhất hành tinh.


Tia X- ray. X quang do Wilhelm Conrad Röntgen phát hiện ra năm 1895 khi ông làm thí nghiệm về xạ tuyến âm cực trong phòng tối. Tình cờ ông phát hiện ra rằng trên màn hình có tráng hóa chất để cách ống âm cực mấy foot phát sáng như có một chùn ánh sáng tạo ra. Suốt bảy tuần miệt mài với thí nghiệm ông hiểu ra rằng nguyên nhân của sự phát sáng là những tia từ ống âm cực tạo ra bóng khi phát xạ. Ông cũng nhận thấy rằng xương người cho bóng rõ hơn phần mềm xung quanh...
Bức ảnh đầu tiên chụp bằng tia X quang năm 1895 là bàn tay của bà Röntgen có đeo chiếc nhẫn vàng thấy rất rõ. Bởi thế, ta có thể nói rằng đàn ông là những người đầu tiên nhìn “xuyên suốt” phụ nữ chứ không phải ngược lại.


Lò vi sóng. Percy Spencer, kĩ sư của công ty Raytheon trở thành người phát minh ra lò vi sóng rất vô tình. Năm 1945, trước khi chiến tranh thế giới II kết thúc một thời gian, Spencer tiến hành một nghiên cứu cải tiến chất lượng của radar. Trong quá trình thí nghiệm, ông phát hiện ra rằng thỏi sô cô la trên bàn tan chảy sau khi bị bức xạ chiếu vào. Sau một loạt thí nghiệm nữa, Spencer quyết đinh chế tạo lò vi sóng đầu tiên nặng gần 400 kg. Sau đó lò này được dùng cho nhà hàng, máy bay, tàu thủy – những nơi cần hâm nóng thức ăn một cách nhanh chóng.


Xe đẩy hàng. Xe đẩy mua hàng trong siêu thị do nhà buôn Sylvan Goldman sáng chế năm 1936. Goldman là chủ một cửa hàng lương thực lớn ở Oklahoma City từng nhận thấy rằng khách hàng nhiều khi không mua thêm hàng vì xách nặng. Sáng chế của Goldman rất vô tình: một hôm ông nhìn thấy một phụ nữ đặt cả giỏ hàng nặng lên chiếc xe đồ chơi mà thằng con nhỏ kéo vào cửa hàng. Thế là Goldman nảy ra ý nghĩ thêm các bánh xe nhỏ vào phía dưới cái giỏ xách hàng. Sau đó ông cho mời các thợ cơ khí thiết kế xe đẩy. Năm 1947 những chiếc xe đẩy mua hàng được sản xuất hàng loạt. Phát minh xe đẩy mua hàng góp phần tạo ra một kiểu cửa hàng mới là siêu thị.


Lưu hóa cao su. Năm 1844 nhà sáng chế Charles Goodyear tình cờ tìm ra công thức lưu hóa, làm cho cao su không bị mềm nhũn dưới trời nắng và giòn trong giá rét. Sau nhiều năm tìm tòi mà không có kết quả, một hôm Goodyear tìm ra công thức này khi vô tình đun hỗn hợp cao su với lưu huỳnh trên bếp lò. Phát minh ra sự lưu hóa cao su trở thành đòn bẩy cho sự phát triển công nghiệp điện tử vì cao su là thứ cách nhiệt tốt. Phát minh này cũng thúc đẩy sự phát triển công nghiệp ô tô như ngày nay.


Máy tạo nhịp tim. Máy tạo nhịp tim giúp ích cho hàng triệu người bị bệnh tim cũng được phát minh ra một cách tình cờ. Năm 1941 kĩ sư John Hopps nhận được đơn đặt hàng của hải quân tìm cách sưởi ấm nhanh cho những người ở ngoài giá rét hoặc ngâm mình dưới nước thời gian dài. Hopps quyết định dùng bức xạ vô tuyến tần số cao để sưởi ấm thì tình cờ phát hiện ra rằng con tim ngừng đập vì lạnh sẽ đập trở lại nếu được kích thích bằng xung điện. Năm 1958 máy tạo nhịp tim đầu tiên được các bác sĩ Thụy Điển thiết kế dựa vào phát minh của Hopps. Tuy vậy, máy này nặng và cồng kềnh, đôi khi làm cho người sử dụng nó bị bỏng cơ thể. Hai năm sau kĩ sư Wilson Greatbatch (Mỹ) đã cải tiến thành công máy này.


Ly đựng kem. Trước khi chưa có ly bánh quế hình nón, người ta thường bán kem đựng trong đĩa. Cha đẻ của ly bánh quế hình nón là Ernest Hamwi – một người Sirya bán bánh quế ở hội chợ St. Louis năm 1904. Ki-ốt bên cạnh là của một người bán kem mà người mua rất đông nên khi hết đĩa, Hamwi đề nghị người này dùng bánh quế cuộn thành hình nón để đựng kem bán cho khách. Sản phẩm này không ngờ lại được đón nhận rất nồng nhiệt vì người ta ăn kem, ăn luôn cả chiếc ly bánh quế. Sau đó Hamwi đã thành lập công ty sản xuất ly đựng kem có tên Cornucopia Waffle Company.


Kem que. Tác giả của phát minh này là cậu bé Frank Epperson 11 tuổi thường khuấy bột hoa quả trong nước rồi đặt ngoài cửa sổ để qua đêm. Một hôm Frank để quên chiếc que khuấy bột trong ly nước. Hôm đó trời lạnh nên sáng ra thứ nước hỗn hợp kia đóng băng lại làm thành một que kem. Frank khoe với bạn bè rằng cậu có thể mút và dùng lưỡi để liếm. 18 năm sau đó Frank nhớ lại kỷ niệm thú vị kia và bắt tay vào sản xuất kem “Popsicle”, sau đó thứ kem này được phổ biến khắp thế giới.


Thuốc kháng sinh. Thuốc kháng sinh ra đời từ một phát hiện tình cờ của Alexander Fleming. Năm 1928, nhà nghiên cứu này để ý thấy nấm khuẩn ty thể penicillin lan sang các mẫu vi khuẩn hình cầu (staphylococcus) ông để gần cửa sổ. Fleming nghiên cứu mẫu ấy, và biết rằng penicillin đang tiêu diệt vi khuẩn staphylococcus. Phát hiện quan trọng của Fleming được công nhận vào năm 1940, lúc bắt đầu những nghiên cứu đầu tiên về thuốc kháng sinh trên toàn cầu. Ngày nay 15% tổng số thuốc bán ra trên toàn thế giới là thuốc kháng sinh.