Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Những sai lầm trở thành phát minh


NHỮNG SAI LẦM TRỞ THÀNH PHÁT MINH

Ai cũng biết rằng nhu cầu là mẹ đẻ của phát minh. Tuy nhiên cũng có thể nói rằng nếu những phát minh có ích thường là kết quả của nhu cầu từ cuộc sống thì những phát minh vĩ đại lại thường là rất ngẫu nhiên, thậm chí có một số do sai lầm mà có. Việc tìm ra châu Mỹ là thí dụ tiêu biểu nhất của những phát minh loại này. Chúng ta đều biết rằng Christopher Columbus trên thực tế là đi về hướng châu Á…
Dưới đây là một số phát minh như vậy – do tình cờ hoặc do sai lầm, nghĩa là kết quả trái ngược với chủ ý ban đầu của người phát minh ra nó. Một số phát minh dưới đây chúng tôi chọn từ cuốn “Mistakes That Worked” của Charlotte Foltz Jones trên trang Washington ProFile, một số từ những nguồn khác.



Rượu sâm banh. Người ta vẫn cho rằng rượu sâm banh là do Dom Pierre Pérignon sáng chế ra, tuy nhiên vị tu sĩ này không hề có ý định làm ra thứ rượu vang sủi bọt này mà hoàn toàn ngược lại – ông mất nhiều năm để tìm cách ngăn chặn hiện tượng này bởi vì sủi bọt thời đó được coi là dấu hiệu của rượu kém chất lượng.
Pérignon muốn chiều theo khẩu vị của giới quí tộc Pháp nên làm rượu vang trắng. Vùng Champagne thích hợp với loại nho đỏ nên ông tìm cách làm vang trắng từ nho đỏ. Thế nhưng khí hậu ở đây tương đối lạnh, rượu nho phải ủ trong trong thùng hai năm. Một vấn đề xảy ra là khí ga tích tụ thường xuyên làm những chiếc thùng ủ rượu nổ tung. Khi đó Pérignon quyết định ủ trong thùng một năm, và năm thứ hai ủ trong chai. Kết quả là ông được một thứ rượu sủi bọt và có ga chua. Pérignon tìm mọi cách để loại trừ những thứ này nhưng không có kết quả. Rất may là giới quí tộc của Pháp và Anh lại rất thích loại rượu này và sau đó thì nó chinh phục cả thế giới, trở thành một thứ rượu của lễ hội, của tình yêu, của tình cảm con người cả khi vui lẫn khi buồn như lời của Madam Lily Bollinger: “I only drink Champagne when I'm happy, and... when I 'm sad”. Hoàng đế Napoleon Bonaparte cũng nói rằng khi thắng trận, ông uống sâm banh để mừng chiến thắng, còn khi thua ông uống sâm banh để tự an ủi mình (I drink champagne when I win, to celebrate . . . and I drink champagne when I lose, to console myself).


Chip khoai tây. Chip khoai tây ra đời từ sự trả thù một vị khách khó tính. Ngày 24 tháng 8 năm 1853 tại một nhà hàng ở thành phố Saratoga Springs, bang New York, Mỹ có một vị khách rất sành ăn và khó tính. Đó là tỷ phú Cornelius Vanderbilt. Ông này thường xuyên từ chối món “french- fried potatoes” của nhà hàng, than phiền rằng món khoai tây này lát dày và mềm nhủn. Bếp trưởng George Crum quyết định chọc quê vị khách bằng cách thái những lát khoai tây mỏng dính rồi cho vào chảo dầu đang sôi thành những mảnh khoai giòn và sẽ vỡ tan khi dùng nĩa đâm vào.
Món ăn này được mang lên cho vị khách khó tính. Đầu tiên, Vanderbilt nói rằng lát khoai tây quá mỏng và không xóc bằng nĩa được, tuy nhiên, sau khi ăn thử vị khách cảm thấy rất hài lòng. Thế là những người khách khác cũng đều gọi món này. Kết quả là trong thực đơn của nhà hàng xuất hiện món “Saratoga chips” mà sau đó ít lâu đã chinh phục cả thế giới.


Giấy ghi chú. Giấy ghi chú Post-it Notes ra đời từ thất bại làm tăng độ bền của băng keo dán. Năm 1968 Spencer Silver – một cộng tác viên của công ty 3M nghiên cứu cách tăng độ bền của băng keo. Anh ta tìm ra một loại keo dán mà không dính chặt vào bề mặt cần dán nên không thể dùng để sản xuất băng keo, và cũng không biết nên dùng nó vào việc gì.
Sau đó mấy năm, một đồng nghiệp của Spencer Silver đi hát trong dàn đồng ca của nhà thờ đã lấy làm bực bội khi thấy những dải giấy đánh dấu trang trong quyển Thánh ca thường xuyên bị rơi xuống. Bỗng nhiên người này nhớ đến loại keo dán kia, là thứ có thể dùng để dán những dải giấy đánh dấu trang mà không làm rách các trang sách. Năm 1980 Post-it Notes được sản xuất hàng loạt.


Keo dính Super Glue. Keo dính ngay được tìm ra năm 1942 cũng là kết quả của một sai lầm. Dr. Harry Coover lúc đó làm cho hãng Eastman Kodak thử nghiệm tách một chất nhựa trong suốt để sản xuất thước ngắm có độ chính xác cao dùng cho các loại súng xách tay. Thử nghiệm không thành công vì chất cyanoacrylate mà Coover dùng đã làm cho mọi thứ dính chặt vào nhau. Nghiên cứu chấm dứt ở đây và chuyển sang một hướng khác.
Sáu năm sau, Coover làm ở một nhà máy hóa chất thuộc bang Tennessee và bỗng nhớ đến chất cực dính mà để dán các vật vào nhau không cần áp suất hay nhiệt độ. Loại keo dính ngay được sản xuất sau một vài điều chỉnh nhỏ. Trong chiến tranh Việt Nam nó được dùng bôi lên vết thương những người lính cho cầm máu để chuyển đến bệnh viện. Số phận trớ trêu của một phát minh nhắm vào việc giết người cho tốt hơn lại hóa thành có ích cho việc cứu được nhiều người.


Bánh nướng với sô-cô-la. Bánh nướng với các mẩu sô cô la chocolate-chip cookies là một trong những loại bánh phổ biến và được yêu thích nhất ở Mỹ. Loại bánh ngon này ra đời năm 1933 từ sai lầm do thiếu hiểu biết kiến thức vật lý của Ruth Wakefield – bà nội trợ ở một khách sạn nhỏ.
Một hôm Ruth Wakefield bẻ tấm sô cô la thành những mẩu nhỏ rồi trộn vào bột nhão và nghĩ rằng sô cô la sẽ tan chảy khi nướng, nhuộm bánh thành màu nâu cùng với mùi vị của sô cô la. Không ngờ, khi lấy bánh ra từ lò nướng thì bánh lốm đốm với những mẩu sô cô la nhưng mọi người ăn bánh ai cũng gật gù khen ngon.


Viagra. Đây là tên hiệu của thuốc Sildenafil dùng để giúp chứng liệt dương ở nam giới được tìm ra theo kiểu “đi làm cái bàn là lại thành ra con voi”. Năm 1992 tại thành phố Mertir Tidefeel, Anh các cộng tác viên của hãng dược phẩm Frizer đi nghiên cứu một loại thuốc chữa viêm họng. Trong quá trình thử nghiệm người ta phát hiện hiệu ứng phụ của thuốc là làm tăng độ cương cứng dương vật của người dùng thuốc. Phát minh sai mục đích ban đầu này trở thành một phát minh ngẫu nhiên vĩ đại thứ ba trong y học, sau tia rơn-ghen và thuốc penixillin.


Coca-Cola. Năm 1886 dược sĩ John Pemberton thử chế một loại hợp dịch từ nước ép của lá cây coca Nam Mỹ và quả cola Châu Phi, là những thứ có tính năng tăng lực. Pemberton uống th thứ nước này, nhận ra chúng có vị ngon và nghĩ rằng loại xi-rô này có thể giúp con người lấy lại sức khỏe, giảm stress và đau răng. Ông mang mặt hàng này bán trong các nhà thuốc của thành phố Atlanta với giá 5 cent một ly.
Thế nhưng nước giải khát Coca-Cola ra đời là do sự cẩu thả của một nhân viên nhà thuốc khi người này mở nhầm vòi nước có ga thay vì nước không ga để pha vào ly nước xi-rô. Loại nước mới được đặt tên Coca-Cola đã không có được sự thành công ngay từ buổi đầu. Năm đầu tiên John Pemberton bỏ 79,96 đô la để quảng cáo sản phẩm mới nhưng chỉ thu về được 50 đô la. Năm 1888 Pemberton bán lại bản quyền phát minh. Năm 1892 Asa Griggs Candler thành lập công ty Coca-Cola. Ngày nay Coca-Cola được sản xuất ở 200 quốc gia trên thế giới và là thương hiệu đắt giá nhất hành tinh.


Tia X- ray. X quang do Wilhelm Conrad Röntgen phát hiện ra năm 1895 khi ông làm thí nghiệm về xạ tuyến âm cực trong phòng tối. Tình cờ ông phát hiện ra rằng trên màn hình có tráng hóa chất để cách ống âm cực mấy foot phát sáng như có một chùn ánh sáng tạo ra. Suốt bảy tuần miệt mài với thí nghiệm ông hiểu ra rằng nguyên nhân của sự phát sáng là những tia từ ống âm cực tạo ra bóng khi phát xạ. Ông cũng nhận thấy rằng xương người cho bóng rõ hơn phần mềm xung quanh...
Bức ảnh đầu tiên chụp bằng tia X quang năm 1895 là bàn tay của bà Röntgen có đeo chiếc nhẫn vàng thấy rất rõ. Bởi thế, ta có thể nói rằng đàn ông là những người đầu tiên nhìn “xuyên suốt” phụ nữ chứ không phải ngược lại.


Lò vi sóng. Percy Spencer, kĩ sư của công ty Raytheon trở thành người phát minh ra lò vi sóng rất vô tình. Năm 1945, trước khi chiến tranh thế giới II kết thúc một thời gian, Spencer tiến hành một nghiên cứu cải tiến chất lượng của radar. Trong quá trình thí nghiệm, ông phát hiện ra rằng thỏi sô cô la trên bàn tan chảy sau khi bị bức xạ chiếu vào. Sau một loạt thí nghiệm nữa, Spencer quyết đinh chế tạo lò vi sóng đầu tiên nặng gần 400 kg. Sau đó lò này được dùng cho nhà hàng, máy bay, tàu thủy – những nơi cần hâm nóng thức ăn một cách nhanh chóng.


Xe đẩy hàng. Xe đẩy mua hàng trong siêu thị do nhà buôn Sylvan Goldman sáng chế năm 1936. Goldman là chủ một cửa hàng lương thực lớn ở Oklahoma City từng nhận thấy rằng khách hàng nhiều khi không mua thêm hàng vì xách nặng. Sáng chế của Goldman rất vô tình: một hôm ông nhìn thấy một phụ nữ đặt cả giỏ hàng nặng lên chiếc xe đồ chơi mà thằng con nhỏ kéo vào cửa hàng. Thế là Goldman nảy ra ý nghĩ thêm các bánh xe nhỏ vào phía dưới cái giỏ xách hàng. Sau đó ông cho mời các thợ cơ khí thiết kế xe đẩy. Năm 1947 những chiếc xe đẩy mua hàng được sản xuất hàng loạt. Phát minh xe đẩy mua hàng góp phần tạo ra một kiểu cửa hàng mới là siêu thị.


Lưu hóa cao su. Năm 1844 nhà sáng chế Charles Goodyear tình cờ tìm ra công thức lưu hóa, làm cho cao su không bị mềm nhũn dưới trời nắng và giòn trong giá rét. Sau nhiều năm tìm tòi mà không có kết quả, một hôm Goodyear tìm ra công thức này khi vô tình đun hỗn hợp cao su với lưu huỳnh trên bếp lò. Phát minh ra sự lưu hóa cao su trở thành đòn bẩy cho sự phát triển công nghiệp điện tử vì cao su là thứ cách nhiệt tốt. Phát minh này cũng thúc đẩy sự phát triển công nghiệp ô tô như ngày nay.


Máy tạo nhịp tim. Máy tạo nhịp tim giúp ích cho hàng triệu người bị bệnh tim cũng được phát minh ra một cách tình cờ. Năm 1941 kĩ sư John Hopps nhận được đơn đặt hàng của hải quân tìm cách sưởi ấm nhanh cho những người ở ngoài giá rét hoặc ngâm mình dưới nước thời gian dài. Hopps quyết định dùng bức xạ vô tuyến tần số cao để sưởi ấm thì tình cờ phát hiện ra rằng con tim ngừng đập vì lạnh sẽ đập trở lại nếu được kích thích bằng xung điện. Năm 1958 máy tạo nhịp tim đầu tiên được các bác sĩ Thụy Điển thiết kế dựa vào phát minh của Hopps. Tuy vậy, máy này nặng và cồng kềnh, đôi khi làm cho người sử dụng nó bị bỏng cơ thể. Hai năm sau kĩ sư Wilson Greatbatch (Mỹ) đã cải tiến thành công máy này.


Ly đựng kem. Trước khi chưa có ly bánh quế hình nón, người ta thường bán kem đựng trong đĩa. Cha đẻ của ly bánh quế hình nón là Ernest Hamwi – một người Sirya bán bánh quế ở hội chợ St. Louis năm 1904. Ki-ốt bên cạnh là của một người bán kem mà người mua rất đông nên khi hết đĩa, Hamwi đề nghị người này dùng bánh quế cuộn thành hình nón để đựng kem bán cho khách. Sản phẩm này không ngờ lại được đón nhận rất nồng nhiệt vì người ta ăn kem, ăn luôn cả chiếc ly bánh quế. Sau đó Hamwi đã thành lập công ty sản xuất ly đựng kem có tên Cornucopia Waffle Company.


Kem que. Tác giả của phát minh này là cậu bé Frank Epperson 11 tuổi thường khuấy bột hoa quả trong nước rồi đặt ngoài cửa sổ để qua đêm. Một hôm Frank để quên chiếc que khuấy bột trong ly nước. Hôm đó trời lạnh nên sáng ra thứ nước hỗn hợp kia đóng băng lại làm thành một que kem. Frank khoe với bạn bè rằng cậu có thể mút và dùng lưỡi để liếm. 18 năm sau đó Frank nhớ lại kỷ niệm thú vị kia và bắt tay vào sản xuất kem “Popsicle”, sau đó thứ kem này được phổ biến khắp thế giới.


Thuốc kháng sinh. Thuốc kháng sinh ra đời từ một phát hiện tình cờ của Alexander Fleming. Năm 1928, nhà nghiên cứu này để ý thấy nấm khuẩn ty thể penicillin lan sang các mẫu vi khuẩn hình cầu (staphylococcus) ông để gần cửa sổ. Fleming nghiên cứu mẫu ấy, và biết rằng penicillin đang tiêu diệt vi khuẩn staphylococcus. Phát hiện quan trọng của Fleming được công nhận vào năm 1940, lúc bắt đầu những nghiên cứu đầu tiên về thuốc kháng sinh trên toàn cầu. Ngày nay 15% tổng số thuốc bán ra trên toàn thế giới là thuốc kháng sinh.
  

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

Đề thi môn tiếng Anh


1. Đề thi môn Tiếng Anh bậc Tiểu học


Dịch sang Tiếng Việt câu sau:


- Three witches watch three swatch watches. Which witch watches which swatch watch?

Đáp án:

- Ba phù thủy nhìn ba chiếc đồng hồ “Swatch”. Phù thủy nào nhìn chiếc đồng hồ “Swatch” nào?


2. Đề thi môn Tiếng Anh bậc Trung học


Dịch sang Tiếng Việt câu sau:

- Three switched witches watch three Swatch watch switches. Which switched witch watches which Swatch watch switch?

Đáp án:
- Ba phù thủy nhìn ba nút vặn trên đồng hồ “Swatch”. Phù thủy nào nhìn nút vặn nào trên đồng hồ “Swatch”?


3.Đề thi môn Tiếng Anh của sinh viên Đại học Ngoại ngữ



Dịch sang Tiếng Việt câu sau:

- Three swiss witch-bitches, which wished to be switched swiss witch-bitches, watch three swiss Swatch watch switches. Which swiss witch-bitch, which wishes to be a switched swiss witch-bitch, wishes to watch which swiss Swatch watch switch?

Đáp án:

Ba yêu tinh Thụy Sĩ muốn thay đổi giới tính, nhìn ba nút vặn trên đồng hồ “Swatch”. Yêu tinh Thụy Sĩ nào muốn thay đổi giới tính và nhìn nút vặn nào trên đồng hồ “Swatch”?


AI NGHĨ RA BẢY NỐT NHẠC?





















Có lẽ ai cũng đã biết gam nhạc có 7 nốt từ “do” đến “si” – từ thế kỷ thứ 11 đã được tu sĩ Guido d'Arezzo dùng để thể hiện những lời cầu Thánh Giăng – John the Baptist (không phải Saint John, tác giả của Kinh Phúc Âm IV, sách Khải Huyền và 3 lá thư trong Tân Ước). Trong những lời này có lời xin giữ gìn sức mạnh của lời: “Hãy cho chúng con xin những đôi môi thanh sạch, Thánh Giăng, để chúng con có thể bằng tất cả sức mạnh của lời chứng kiến điều kỳ diệu trong sự nghiệp của Ngài”:
UT queant laxis
REsоnare fibris
MIra gestоrum
FAmuli tuоrum
SOLve pоlluti
LAbii reatum
Sancte Iоannes.
Nốt đầu tiên “UT” được thay bằng “DO” trong thế kỷ 17, nốt cuối cùng được thay bằng “SI”, mặc dù không giống tiếng của chữ đầu “sancte – thánh” nhưng dễ hát hơn, mặt khác đó cũng là hai chữ cái đầu của Sancte Iоannes – Thánh Giăng.
Guido d'Arezzo dùng bàn tay trái của mình để biểu thị độ cao của giọng. Các đốt của các ngón tay qui định tương xứng với các nốt cho phép tu sĩ ra hiệu cho dàn đồng ca hát theo nốt nào.


NẾU BẠN YÊU NÀNG... VÀ DỊ BẢN














NẾU BẠN YÊU NÀNG... VÀ DỊ BẢN


Nguyên bản:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu nàng quay trở về thì nàng là của bạn. Còn nếu không – nàng không bao giờ và chưa bao giờ là của bạn.

Dị bản mới:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu nàng quay về – nàng là của bạn. Nếu không – nàng chưa từng là của bạn. Nếu nàng ngồi trên giường bạn, ăn cơm bạn, gọi điện thoại nhà bạn và không tỏ ra là bạn để nàng đi, thì hoặc nàng là vợ bạn hoặc bạn là bố của nàng.

Người bi quan:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu bỗng nhiên nàng quay về thì có thể nàng sẽ là của bạn. Còn nếu không, nàng không bao giờ và chưa bao giờ là của bạn.

Người lạc quan:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Bạn đừng lo lắng gì, chắc chắn nàng sẽ quay trở lại.

Người hay trả thù:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu nàng không quay về thì hãy dõi theo nàng và giết.

Hoạn Thư:
Lo gì việc ấy mà lo
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu.

Lập trình C++;
if(you-love(m_she)) m_she.free() if(m_she == NULL) m_she = new CShe;

Người bảo vệ quyền động vật:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nói chung là mọi sinh vật sống cần được tự do.

Bill Gates:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Không phụ thuộc vào việc nàng có quay về hay chẳng quay về – bạn cần hệ điều hành Windows mới.

Hồ Dzếnh:
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về
Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.

Nhà sinh vật học:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nàng sẽ tiến hóa.

Arnold  Schwarzenegger:
Hasta la vista, baby. I`ll be back!

Konstantin Simonov:
Đợi anh, anh sẽ về
Trông chết cười ngạo nghễ.

Người đa nghi:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu bỗng nhiên nàng quay về thì hãy hỏi tại sao nàng đã làm như vậy.

Nhà tâm lý học:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu nàng quay trở về thì nghĩa là super-ego của nàng chiếm ưu thế. Nếu không – nghĩa là tiềm thức mạnh hơn. Còn nếu nàng không ra đi, thì có lẽ nàng là người mất trí!

Người mộng du:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu nàng quay trở về thì quả là ác mộng. Còn nếu không – bạn cần ngủ tiếp.

Người kiêu ngạo:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy bỏ mà đi. Nếu nàng hỏi bạn vì điều chi thì hãy nhổ nước bọt vào mặt nàng rồi biến.

Nhân viên tiếp thị:
Nếu bạn yêu nàng thì hãy để nàng đi. Nếu nàng quay trở về thì nghĩa là thương hiệu của trên thị trường này đã nổi tiếng. Còn nếu không – bạn hãy phát triển thương hiệu của mình sang những thị trường khác.

Người tham lam:
Nếu em đã có gì rồi thì đừng bao giờ để cho người ta ra đi.

Saadi:
Sau khi chết nếu được lên thiên đàng những chẳng có em
Thì anh sẽ nhắm mắt vào cho khỏi thấy thiên đàng hạnh phúc.

Thomas Moore:
Ngày gặp gỡ hạnh phúc chẳng kéo dài
Bởi hạnh phúc lâu ngày không chịu ở
Nhưng chia ly để hy vọng ngày mai
Ta lại vui niềm vui ngày gặp gỡ.

Lord Byron:
Vĩnh biệt em! Và nếu là mãi mãi
Thì đến muôn đời vĩnh biệt em.




NGUỒN GỐC CỦA TỪ “FUCK”

Có rất nhiều giả thiết về xuất xứ của từ chửi thề phổ biến nhất của tiếng Anh – Fuck. Việc cấm sử dụng từ này nghiêm đến mức trong từ điển tiếng Anh từ này chỉ xuất hiện vào năm 1966. Dưới đây là một số trong rất nhiều giả thiết đó.
Giả thiết cổ điển khẳng định rằng từ này có nguồn gốc từ tiếng Hà Lan, Đức hoặc Thụy Điển, Na Uy. Nghe có vẻ giống như từ fokken, tiếng Hà Lan có nghĩa là “giao phối”, ficken tiếng Đức là “giao hợp” còn từ fokka của tiếng Thụy Điển cũng có nghĩa là “giao cấu”.
Một giả thiết cho rằng “Fuck” là viết tắt của Found Under Carnal Knowledge (Có dấu hiệu nhận biết nhục dục) – chữ viết tắt F.U.C.K thường được ghi trong giấy khám bệnh của những người lính quân đội Đế chế Anh nếu người này mắc bệnh hoa liễu.
Theo một giả thiết khác thì F.U.C.K là viết tắt của Fоrnicatiоn Under Cоnsent оf the King (Sự phóng đãng được vua đồng ý). Thời xưa dòng chữ này được treo trước cửa những ngôi nhà có những người làm chuyện ấy được sự đồng ý của nhà vua.
Một giả thiết nữa thì cho rằng F.U.C.K là viết tắt của Fоrced Unnatural Carnal Knоwledge (Sự nhận biết nhục dục trái tự nhiên (bắt ép) – là một thuật ngữ ngành luật dùng để chỉ sự hiếp dâm ở thế ký XVI.
Và cuối cùng, F.U.C.K là Fоr Unlawful Carnal Knоwledge (Vì sự nhận biết nhục dục bất hợp pháp) – đấy là bản án xuất hiện trên tạp chí Playboy trong thập niên 70 thế kỷ XX viết về những người đàn ông sử dụng dịch vụ gái điếm ở nhiều thế kỷ trước. Cũng trong tạp chí này có bài viết về xuất xứ của từ FUCK.



CON SỐ 13

Số 13 từ thời cổ đại đã được coi là con số xui xẻo. Số 13 đứng ngay sau số 12, vốn được coi là con số hoàn hảo, biểu tượng của sự hài hòa trong trời đất: một năm có 12 tháng và 12 con vật của tử vi, ngày và đêm đều có 12 giờ vv… Số 13 bắt đầu một chu kỳ mới nên phá vỡ sự cân bằng vốn có trước đây. Bởi thế số 13 còn được gọi là con số chết. Theo tục Kabbalah của Do Thái giáo, số 13 và cái chết được thể hiện bằng chữ cái ‘Mem’ trong bảng an-pha-bê Do Thái.

Nhà thơ, nhà hùng biện Hy Lạp cổ đại Hesiod từ thế kỷ VIII tr. CN đã khuyên nông dân không gieo hạt giống vào ngày 13. Lịch âm Babylon đặt tên cho tháng nhuận thứ 13 là “quạ đen bất hạnh”.

Dù sao thì thời cổ đại con người ta có thái độ đối với cái chết không như người ngày nay. Thời đó người ta tin vào luân hồi chuyển kiếp (Reincarnation) nên cái chết cũng có nghĩa là sự bắt đầu của một cuộc sống mới, và đó cũng là ý nghĩa của con số 13: kết thúc chu kỳ cũ, bắt đầu chu kỳ tiếp theo.

Đến thời độc thần giáo phổ biến thì cái chết làm cho con người khiếp sợ, cùng với cái chết là con số 13. Từ thời Trung cổ trở đi con người sợ con số 13 bất chấp những suy diễn của toán học và lô-gích học. 

Chứng sợ số 13 (Triskaidekaphobia) phổ biến khắp thế giới. Ở Mỹ nhà không có tầng thứ 13, mặc dù thực chất là tầng thứ 13 nhưng người sống ở đó dứt khoát là họ sống ở tầng 14. Ở Pháp không có nhà số 13, trên một số máy bay không có hàng ghế thứ 13, tiếp sau hàng thứ 12 là 14. Người ta coi là điềm gở nếu 13 người tập trung quanh một cái bàn hay trong một dịp nào đấy và tin rằng một người trong số này sẽ chết trong năm đó. Có những người vào ngày 13 là chỉ ngồi ở nhà mà không đi đâu, đặc biệt là nếu trùng vào ngày thứ sáu.

Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người và mọi lúc, mọi nơi đều có thái độ như trên với con số 13. Ở châu Mỹ ta gặp nhiều trường hợp ngược lại. 

Người Maya và người Aztec coi 13 là con số thiêng. Theo truyền thuyết của các dân tộc này thì bầu trời được chia thành 13 bậc, trong mỗi bậc như thế có vị thần của mình. Tuần lễ của các dân tộc này cũng có 13 ngày.


Những người sáng lập ra nước Mỹ cũng rất thích con số 13. Có thể giải thích điều này là số bang của nước Mỹ trong ngày đầu độc lập gồm 13, nhưng quan trọng hơn, con số này là biểu tượng cho sự kết thúc của cái cũ và sự sinh ra của cái mới, thể hiện ước mơ của người Mỹ xây dựng một quốc gia độc lập, tách biệt với truyền thống của châu Âu già cũ. Chẳng biết có phải như vậy không nhưng số 13 hiện diện trong tất cả các phần của Quốc huy nước Mỹ. Nhìn vào Quốc huy này ta thấy: trên đầu con đại bàng là một chùm sao gồm 13 chiếc. Bàn chân trái của con đại bàng giữ 13 mũi tên, còn bàn chân phải giữ cành ô-liu có 13 lá và 13 quả. Dòng chữ “E pluribus unum” (từ nhiều thành một) trên Quốc huy cũng gồm 13 chữ cái, và nữa, số sọc trắng và đỏ trên cờ Mỹ cũng gồm 13.

Thế kỷ XIX ở New York có 13 người đàn ông thành lập câu lạc bộ “Mười ba” với mục đích phê phán quan niệm rằng con số 13 là xui xẻo. Buổi tiệc lễ long trọng của câu lạc bộ này được tổ chức vào ngày thứ sáu, 13 tháng 1 năm 1882 trong phòng số 13, từ 7.13 đến 13.00 giờ. Các thành viên của câu lạc bộ tập trung hàng tháng vào ngày 13 và đóng lệ phí lần đầu tiên là 1 đô la 13 cent và cho cả đời là 13 đô la. Câu lạc bộ này đã rất thành công và sau đó người ta còn mở thêm chi nhánh ở London.

Từ xa xưa con số 13 đồng nghĩa với Quỉ Satan. Nếu đem so sánh sự phá bỏ và biến đổi với trật tự trời đất (mà số 12 là tượng trưng) thì ta sẽ thấy đó là những nét đặc trưng của Quỉ Satan và Bóng tối. Con người sợ con số 13 là vì nguyên nhân này, người ta thường không muốn thay đổi nếp sống và trật tự quen thuộc lấy một đời sống tương thích trong thế giới thực.
Tự bản thân con số 13 không phải là may mắn hay xui xẻo. Con số 13 tượng trưng cho sự biến đổi và mối liên hệ giữa cái đang có và cái sẽ đến.